Đánh giá các chính sách và các dịch vụ công thúc đẩy hoặc hạn chế việc áp dụng SRI và các phương pháp canh tác lúa tương tự trên quy mô rộng


         Trong bối cảnh của việc thực hiện các chính sách của Việt Nam về An ninh lương thực và biến đổi khí hậu, cam kết giảm thiểu phát thải trong nông nông nghiệp đến 2020 của Việt nam, việc thay đổi các thực hành kỹ thuật canh tác lúa trở nên đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả sản xuất lúa và giảm thiểu phát thải khí nhà kính.

          Hiện nay, trong sản xuất lúa đang tồn tại một số quy trình sản xuất lúa tổng hợp theo hướng giảm đầu vào và có tiềm năng giảm thiểu phát thải khí nhà kính như SRI, 3 giảm – 3 tăng, 1 phải -5 giảm….Tuy các kỹ thuật trên có nhiều ưu điểm song trên thực tế sản xuất vẫn gặp khó khăn trong việc mở rộng diện tích áp dụng và thu hút số đông hộ nông dân tham gia thực hiện. Giả thiết ở đây là có các vướng mắc về chính sách thúc đẩy phát triển lúa, mặc dù các chính sách này đã có nhiều. Trong khuôn khổ thực hiện các hành động chính sách của Kế hoạch hành động Biến đổi khí hậu của Bộ NN và PTNT, OXFAM và Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp (CASRAD) thực hiện nghiên cứu:

“Đánh giá các chính sách và các dịch vụ công thúc đẩy hoặc hạn chế việc áp dụng SRI và các phương pháp canh tác lúa tương tự trên quy mô rộng ”
Sau đây là tóm lược một số kết luận và kiến nghị của nhóm công tác sau khi nghiên cứu (TS Đào Thế Anh; ThS Nguyễn Ngọc Mai; Kỹ sư Nguyễn Văn Thắng, Ung Thị Hồng Nhung, Vũ Nhật Cảnh – CASRAD):
Các chính sách chương trình thiếu tính hệ thống và tác động vào từng khâu của sản xuất riêng biệt, thiếu các chính sách phát triển các quy trình sản xuất tiến bộ hay thiếu điều phối giữa các chương trình thúc đẩy sản xuất lúa. Cần có sự thống nhất và chuẩn hóa các nguyên tắc kỹ thuật chung và nghiên cứu thích ứng cho các vùng sinh thái lớn.
1. Trong sản xuất có nhiều quy trình có nguyên tắc gần như nhau nhưng có quá nhiều tên gọi, gây khó khăn cho nông dân trong việc nhận biết. Việc triển khai thử nghiệm một số quy trình mang tính đào tạo kỹ thuật thụ động chứ chưa nâng được nhận thức của nông dân do vậy việc mở rộng hạn chế.
2. Các quy trình sản xuất lúa tổng hợp có tiềm năng giảm phát thải KNK như 3G-3T, 1 phải 5 giảm hay SRI chỉ mới triển khai về mặt kỹ thuật và đã góp phần tăng hiệu quả sản xuất lúa, chính sách mới chỉ phát huy được ở các vùng trọng điểm lúa do lúa có vai trò quan trọng, có sự vào cuộc nhiệt tình của chính quyền địa phương; còn ỏ các tỉnh có sản xuất đa dạng thì chính sách thực hiện yếu hơn.
3. Các dịch vụ công cung cấp cho nông dân chưa đồng bộ gây cản trở cho việc mở rộng diện tích lúa theo hướng canh tác tiến bộ do không tạo được tăng hiệu quả kinh tế, thiếu động cơ kích thích kinh tế cho hộ nông dân.
4. Tiếp cận khuyến nông từ dưới lên, có sự tham gia của nông dân do Cục BVTV, OXFAM, Trung tâm HTNN triển khai để nâng cao nhận thức của nông dân có hiệu quả trong việc thúc đẩy mở rộng áp dụng quy trình.
5. Việc đưa các kỹ thuật như SRI, 3G-3T, 1P-5G vào chương trình hành động giảm thiểu phát thải là hết sức cần thiết, tuy vậy thách thức chính là xây dựng các chương trình triển khai mang tính tổng hợp và kết hợp lồng ghép được với các chương trình phát triển lúa khác, tránh mâu thuẫn như Cánh đồng mẫu lớn, bảo vệ đất lúa đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao giá trị gia tăng lúa gạo. Bộ NN và PTNT cần tăng cường đầu tư cho các Viện nghiên cứu và phát triển các cơ sở dịch vụ trong nước  có đủ năng lực phân tích và chứng thực tín chỉ Carbon.
Kiến nghị chính sách:
1. Bộ NN và PTNT cần chủ trì thống nhất các nguyên tắc kỹ thuật của SRI dưới  tên gọi chung, tăng cường nghiên cứu thích ứng với các vùng sinh thái để thuận lợi cho thể chế hóa trong chương trình hành động biến đổi khí hậu với tên gọi “ Kỹ thuật canh tác lúa hiệu quả cao, giảm thiểu phát thải KNK”, bao gồm các biện,pháp: Áp dụng giống xác nhận + SRI + Phân hữu cơ bán hảo khí + giảm thất thoát sau thu hoạch.
2. Bộ Nông nghiệp cần có sự đầu tư cho nghiên cứu và tập hợp những sáng tạo trong sản xuất của các tổ chức, cá nhân và cộng đồng, và đánh giá đầy đủ ở các khía cạnh về kinh tế, xã hội và môi trường, trên cơ sở đó có những chính sách khuyến khích đẩy mạnh ứng dụng. Cần tổ chức lại các chính sách chương trình thúc đẩy sản xuất theo hệ thống và theo hướng phát triển đồng bộ cả quy trình sản xuất theo hướng SRI, kết hợp với các tiêu chuẩn của VietGAP, phục vụ mục tiêu chung của các chương trình chính sách lớn về lúa của Bộ NN và PTNT như: Cánh đồng mẫu lớn. Giữ đất lúa đảm An ninh lương thực, nâng cao giá trị lúa gạo…
3. Bộ NN cần nghiên cứu hướng dẫn thích ứng nôi dung kỹ thuật của gói SRI giảm thiểu phát thải KNK theo vùng sinh thái, khuyến nông địa phương dựa trên các nguyên tắc chính cho vùng có thể xem xét thích ứng trên từng loại chân đất ở địa phương cho phù hợp. Việc tham khảo kinh nghiệm của nông dân về canh tác lúa là cần thiết để bổ xung cho việc thích ứng hóa quy trình sản xuất này.
4. Xây dựng chương trình khuyến nông giảm thiểu phát thải KNK và đẩy mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức, đặc biệt là nhận thức về môi trường, cho các tác nhân, đặc biệt là trách nhiệm xã hội cho nông dân sản xuất thông qua việc thực hiện quy trình canh tác theo nguyên tắc SRI.
5. Hưởng ứng sáng kiến của Tổ chức biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (UNEP) về trồng lúa bền vững (2011), sử dụng nhãn eco-labeling cho lúa gạo để truyền thông đến người tiêu dùng. Các chính sách khác cần phối hợp trong chương trình khuyến nông động vào chuỗi giá trị lúa gạo: Đưa SRI vào đào tạo nghề nông chuyên nghiệp, kết hợp dán nhãn môi trường và nâng cao chất lượng gạo để tham gia các đàm phán về thị trường tư do với ASEAN, EU…
6. Xây dựng các thể chế chính sách Trung ương và địa phương đển kết hợp áp dụng quy trình canh tác giảm thiểu phát thải  trên diện rộng, tổ chức dịch vụ chứng nhận tín chỉ carbon và đàm phán các dự án carbon tự nguyện với quốc tế  để tạo thêm nguồn kinh phí từ thị trường các bon, để có cơ chế tài chính đủ mạnh khuyến khích cho nông dân thực hiện canh tác giảm thiểu phát thải KHK.
7. Cần có nghiên cứu thị trường và ngành hàng lúa và nông sản để tăng tỷ trọng thu nhập nông nghiệp đối với tổng thu nhập của hộ để thu hút lao động nông nghiệp và thông qua đó đẩy mạnh được áp dụng SRI cũng như  áp dụng tính sáng tạo trong quy trình kỹ thuật SRI áp dụng đối với các kỹ thuật canh tác của cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân.
8. Cải tạo lại hệ thống kênh mương để chủ động tưới tiêu và ứng phó với BĐKH hiện nay, đặc biệt áp dụng kỹ thuật canh tác SRI cân chủ động trong khâu rút nước giảm phát thải khí nhà kính và canh tác tiết kiệm nước.

(Thông tin trích từ báo cáo tóm tắt của nhóm nghiên cứu CASRAD)

This entry was posted in Nông nghiệp - Nông thôn, Tin tức trong nước and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s