Những trận lũ, lụt điển hình ở Hệ thống sông Cả (Nghệ An – Hà Tĩnh)


1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên

Sông Cả phát nguyên từ tỉnh Xiêng Khoảng thuộc Lào, ở độ cao 2.000m, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam qua tỉnh Nghệ An và đổ ra biển Đông tại Cửa Hội. Sông dài 531 km, phần thuộc Việt nam dài 351 km. Lưu vực có diện tích 27.200 km2, phần ở Việt Nam là 17.730km2; cao bình quân là 294 km, độ dốc bình quân 18,3%; độ rộng bình quân 89 km. Mật độ lưới sông 0,6 km/km2. Sông Cả có nhiều nhánh, bờ hữu có 39 nhánh cấp 1 và cấp 2, bờ tả có 47 nhánh cấp 1 và cấp 2. Hai nhánh chính là:
Sông Hiếu ở tả ngạn, phát nguyên từ bản Chiềng, huyện Quỳ Châu, Nghệ An ở độ cao 700m đổ vào sông Cả ở Đào Giàng. Sông dài 228 km. Lưu vực có diện tích 5340 km2, cao bình quân 303m, độ dốc bình quân 13%, chiều rộng bình quân 32,5 km. Sông Ngàn Sâu ở hữu ngạn, đổ vào sông Cả ở Trường Xá, phía hạ lưu trạm Nam Đàn 30 km. Sông dài 135 km, chảy hoàn toàn trong tỉnh Hà Tĩnh, diện tích 2310 km2. Độ cao nguồn sông 1100m, độ cao bình quân lưu vực 362 m, độ dốc bình quân lưu vực 28,2%, chiều rộng bình quân lưu vực 46,6km.
Sông Cả, từ thượng du đến trung du, chảy qua vùng đồi núi. Phía trên Cửa Rào, Nghĩa Khánh là những vùng rừng già. Từ Dừa trở xuống, lòng sông ít dốc hơn, thung lũng mở rộng, nhiều đồi trọc và ruộng đồng bằng phẳng. Diện tích khu giữa từ Cửa Rào và Nghĩa Khánh đến Dừa là 4.030 km2, từ Dừa đến Nam Đàn là 3.200km2. Đồng bằng sông Cả rất thấp, thường xuyên bị ngập úng khi mưa to. Có 3 vùng ngập chính :

+ Vùng Nam Đàn – Hưng Nguyên – Nghi Lộc, diện tích canh tác khoảng 48.700 ha. Nước trong vùng này thoát qua Kênh Thấp từ Nam Đàn chảy theo hướng Đông Nam, tới Mượu (Hưng Thái) thì tách ra làm 2 nhánh: kênh Hoàng Cầm đổ ra Bến Thủy để tiêu ra sông Cả qua trạm bơm Bến Thủy, nhánh khác là Kênh Gai lên phía Bắc đổ ra Cửa Lò.

+ Vùng Diễn Châu – Yên Thành – Quỳnh Lưu. Vùng Diễn châu có kênh tiêu Vách Bắc thu nước từ phía Bắc và từ các sông Dinh, Dền, Qui Lãng, Lạc Thổ và Bàn Dú rồi tiêu qua kênh Diễn Hoa và sông Bùng ra biển tại cống Diễn Thủy và Diễn Thành. Vùng Quỳnh Lưu, trũng ở hữu ngạn sông Hoàng Mai, có đê bảo vệ, nhưng thường bị úng do đất thấp.

+ Vùng Đức Thọ, Can Lộc thuộc tỉnh Hà Tĩnh là vùng lòng chảo chạy dọc theo sông Nghèn. Phía Đông của đồng bằng là núi Hồng Lĩnh, còn phía Tây là núi Tra Sơn. Sông Nghèn nối với sông Lam bởi cống Trung Lương, còn đầu kia chảy ra biển qua cửa Sót. Khi lũ sông Ngàn Sâu lên cao thì nước sông Nghèn không tiêu ra sông Lam được.

Hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh có nhiều đường giao thông quan trọng như đường Sắt, Quốc lộ 1A, các đường 48, đường 7A, các tỉnh lộ, huyện lộ. Quốc lộ 1A đi qua vùng úng phía nam thành phố Vinh, vùng Can Lộc. Đường sắt đi trên nền cao hơn, chỉ bị ngập ở Hưng Nguyên, tả ngạn sông Cả, sau đó rẽ về phía Tây đi men theo sông Ngàn Sâu. Các đường Diễn Châu – Đô Lương, Vinh – Nam Đàn cũng đi qua vùng úng lụt. Hai công trình thủy nông lớn là Đập Đô Lương, lấy nước tưới cho 2 huyện Yên Thành và Diễn Châu; cống Nam Đàn lấy nước tưới cho 2 huyện Nam Đàn và Hưng Nguyên. Các công trình chống úng lụt gồm: Đê sông Cả từ Đô Lương trở xuống. Hữu ngạn, phần lớn là đê địa phương, chỉ đắp ven những triền đất thấp, không liên tục; giữ được trên BĐ 2. Phía tả ngạn là đê trung ương xen kẽ với đê địa phương, đoạn Đô Lương-Nam Đàn đê không khép kín, đoạn Nam Đàn – Bến Thủy đê liên tục. Đê trung ương được thiết kế theo lũ 1954 tại Nam Đàn là 10.24 m. Các kênh tiêu và các trạm bơm, cống tiêu: Kênh thấp từ Nam Đàn ra Bến Thủy và Cửa Lò (85 km); Kênh Vách Bắc và Diễn Hoa tiêu nước ra cống Diễn Thủy, Diễn Thành; Cống Trung Lương, Đông Huề trên sông Nghèn. Các hồ chậm lũ: Vệ Vừng, Xuân Nguyên, Quán Hài, Đền Hùng, Kẻ Sắt, Đập Diếc, Bàu Dú, với tổng dung tích 47,3 triệu m3 để chậm lũ cho khu Diễn-Yên-Quỳnh. 16 hồ nhỏ khác ở vùng Hồng Lĩnh, Trà Sơn, tổng dung tích 327 triệu m3, để chậm lũ cho khu Đức-Can.

1.2. Đặc điểm khí tượng thủy văn

Mưa, lũ lớn sông Cả chủ yếu do Bão, ATNĐ, nhiều khi có sự phối hợp của KKL. Bão gây lũ lớn chủ yếu ở phần phía Nam của Nghệ Tĩnh, đôi khi bão vào Thanh hóa cũng gây lũ lớn (báo động III) trên sông Cả. Mùa mưa trên lưu vực sông Cả từ tháng VIII đến XI, tập trung vào tháng IX và X. Mưa ở hạ lưu sông Cả thường lớn hơn mưa ở thượng lưu, hướng di chuyển mưa cũng thường từ hạ lưu lên thượng lưu. Mưa gây lũ đặc biệt lớn trên sông Cả thường kéo dài trên một tuần lễ. Lượng mưa 7 ngày lớn nhất, tần suất 2% biến đổi từ 800-1.400mm ở đồng bằng và 700-1.200mm ở miền núi. Lũ sông Cả hình thành ở trung, thượng lưu, nhiều khi dòng chảy khu giữa Dừa – Nam Đàn xấp xỉ dòng chảy tại Dừa. Lũ sông La (gồm 2 nhánh Ngàn Sâu và Ngàn Phố) bổ sung cho dòng chảy sông Cả ở phía dưới Nam Đàn khoảng 30km và đe dọa hệ thống đê điều ở đồng bằng. Lũ sông La thường lớn hơn lũ của sông Hiếu từ 1,5 đến 2 lần. Ngập úng ở đồng bằng Nghệ Tĩnh chủ yếu phụ thuộc vào mưa nội đồng. Nếu xảy ra vỡ đê thì tình hình ngập úng càng thêm nghiêm trọng. Việc tiêu úng chủ yếu dựa vào các trạm bơm. Khi lũ lớn, thường các cống Bến Thủy, Trung Lương không hoạt động vì nước ngoài sông cao hơn trong đồng. Biên độ thủy triều trung bình trong tháng IX ở Bến Thủy là 1,97m, lớn nhất là 2,92m, tại Cửa Hội trong tháng X là 2,23m (cao nhất 2,58m). Gặp triều cao, nước úng ngập trong đồng thoát ra biển rất khó khăn. Bão đổ bộ vào Hà Tĩnh – Đèo Ngang, có thể gây nước dâng làm cho úng lụt thêm nghiêm trọng. Ví dụ, bão đổ bộ vào Kỳ Anh ngày 13/ X/1989 gây nước dâng tại Cửa Lò tới 3m; hay bão vào Nam Đèo Ngang ngày 29/VIII/1990 gây nước dâng tại Cửa Hội là 1,80m. Theo thống kê từ năm 1976-1998, chưa xảy ra tổ hợp lũ lụt lớn gặp nước dâng do gió bão.

1.3. Đặc điểm mưa lũ trong trận lũ lớn X – 1978 và X – 1988

+ Trận lũ lớn tháng IX năm 1978. Lũ lớn tháng IX/1978 là trận lũ kép với 2 đỉnh thuộc loại lớn. Mực nước cao nhất tại Nam Đàn là 9,64m (hoàn nguyên là 10,38m), tại Linh Cảm là 7,75m. Lũ đặc biệt lớn trên sông Cả do mưa 3 cơn bão (số 7, 8, 9) tác động liên tiếp lên phía nam Nghệ Tĩnh khi kết hợp với KKL: Cơn bão số 7, sau khi suy yếu thành áp thấp đi vào Quảng Nam -Đà Nẵng ngày 15/IX, tiếp theo là bão số 8 vào nam Quảng Bình, bắc Đà Nẵng ngày 20/IX, kết hợp với KKL gây ra mưa lớn ở trung, hạ lưu sông Cả. Tổng lượng mưa lớn nhất trong 9 ngày (14 – 23/IX) tại Môn Sơn (lưu vực sông Giàng) là 727,5 mm, Khai Sơn 701,7mm, Đô Lương 691,3 mm. Mưa trên 600mm bao trùm toàn bộ khu giữa Dừa – Nam Đàn, gây nên đỉnh lũ thứ nhất tại Nam Đàn lên tới 8,10 m, cao hơn BĐ III là 20 cm. Ngày 26/9, khi lũ đang rút (mực nước Nam Đàn đã xuống tới 6,94 m), bão số 9 lại đổ bộ vào bắc Quảng Bình có tác động của KKL gây nên mưa lớn, tập trung trong 3 ngày 26-28/IX. Trung tâm mưa lớn đợt này cũng ở khu giữa Dừa – Nam Đàn, lượng mưa lớn nhất 3 ngày (26-28/IX) tại Đô Lương là 957,9mm, Môn Sơn 867,4mm, Khai Sơn 846,8mm, Dừa 809,2mm. Diện mưa trên 700mm trải rộng từ Dừa tới Nam Đàn, vùng đồng bằng bắc Nghệ Tĩnh mưa 500-700mm. Lượng mưa trung bình trên phần lưu vực sông Cả thuộc Việt Nam đợt này là 387mm. Tính chung cho cả 2 đợt, từ 14-28/IX, mưa trung bình là 762,8mm, tương đương với 10,8 tỉ m3 nước, nếu tính toàn lưu vực thì tương đương với 14,2 tỉ m3 nước. Tại đồng bằng phía thành phố Vinh, lượng mưa bình quân bằng 1134,3mm, tương đương 2,4 tỉ m3 nước; tại đồng bằng tỉnh Hà Tĩnh, lượng mưa lớn hơn: tại Bàu Nước (Kỳ Anh) mưa 2422,4mm, Kỳ Sơn 2041,1mm, Hà Tĩnh 1464mm, Trung Lương 1210mm. Đợt mưa thứ hai làm lũ lên lại rất nhanh, cường suất lớn nhất tại Dừa là 57cm/h, tại Nam Đàn là 20cm/h. Đỉnh lũ tại Dừa là 9.920m3/s, gia nhập khu giữa ước tính là 7.820m3/s, tại Yên Thương là 9.140m3/s. Lũ sông La rất lớn đã cản trở sự thoát lũ ở hạ lưu sông Cả và uy hiếp đê ở hạ lưu. Đỉnh lũ tại Linh Cảm là 7,75m (năm 1954 là 6,10m). Lũ tại Nam Đàn duy trì trên mức báo động 3 trong đợt đầu là trên 2 ngày, đợt sau là 6 ngày.

Từ tối ngày 27 đến ngày 28/IX, các đê hữu ngạn và tiếp theo là các đê tả ngạn lần lượt bị vỡ. Có 397 chỗ vỡ, tổng chiều dài là 29.400m với khối lượng đất vỡ là 587.000m3, trong đó, đê trung ương vỡ 7 chỗ, dài 570m, khối lượng 14.400m3; đê địa phương vỡ 220 chỗ, dài 9.800m, khối lượng 278.000m3; đê ngăn mặn vỡ 170 chỗ, dài 19.000m, khối lượng 295.000m. Riêng trên sông Cả có 125 chỗ vỡ (đê tả 39 chỗ, đê hữu 86 chỗ). Các chỗ vỡ và tràn bên bờ hữu sông Cả đều là đê địa phương, chỉ giữ được ở mức báo động 2 trở xuống. Lượng nước tràn vào đồng được giữ lại tạm thời, sau đó lại chảy ra sông. Bên tả ngạn, gần huyện lỵ Thanh Chương (đê Đồng Văn, Cốm Thái) có 25 chỗ vỡ, dài tới 730m, sâu 2 – 3,5m (ngày 27/IX) làm ngập các vùng trũng.

+ Trận lũ lớn tháng X/1988: Đỉnh lũ tại Nam Đàn là 9,41m, thấp hơn đỉnh lũ thực đo năm 1978 là 23cm. Lũ do mưa bão số 7 đổ bộ vào Qui Nhơn trưa ngày 10/X, sau suy yếu thành ATNĐ và dịch lên phía Bắc. Ngày 12, 13, ATNĐ di chuyển sang Lào, Thái Lan và tan ở đây. Sau khi bão vào bờ lạI có một bộ phận không khí lạnh tăng cường làm cho đới gió đông – đông bắc ở ven biển mạnh lên. Mưa lớn từ ngày 12, 13/X.Tổng lượng mưa từ ngày 11-18/X, thay đổi từ 282-694mm ở đồng bằng lên đến 369-964mm ở miền núi. Tâm mưa ở trung du sông Ngàn Sâu – sông Cả. So với trận lũ IX/1978 thì mưa lưu vực sông Ngàn Sâu – Ngàn Phố tương đương, ở thượng lưu sông Cả mưa nhỏ hơn, còn ở đồng bằng thì chỉ bằng 1/2-1/3. Do vậy, lũ thượng nguồn sông Cả và Ngàn Phố năm 1988 lớn hơn năm 1978 một ít, gia nhập khu giữa Dừa-Nam Đàn nhỏ. Trên sông chính xảy ra lũ đơn, lũ trên BĐ 3 tại Nam Đàn kéo dài 8 ngày (từ 19h/14 đến 22h/22); khi gần đỉnh (17-20/X), thủy triều ở Cửa Hội đang trong chu kỳ nước cao, biên độ đạt 2.40m (trung bình tháng X là 2,23m) nên thoát lũ rất khó khăn. 1.4: Tình hình ngập lụt, úng ở đồng bằng Nghệ An – Hà Tĩnh

+ Ngập lụt, úng ở đồng bằng Nghệ Tĩnh xảy ra thường xuyên khi mưa bão. Năm 1978, khi lũ mới ở mức báo động 3 (ngày 30/VIII và 20/IX) đã xảy ra úng ngập nặng và được xem là năm điển hình để tính toán thiết kế biện pháp chống úng. Năm 1988, lũ sông Cả thấp hơn năm 1978, mưa ở đồng bằng nhỏ hơn ở trung, thượng lưu và không có vỡ đê, nhưng thủy triều cao gây thoát lũ kém nên diện úng ngập khá lớn (68.000ha lúa và hoa màu bị ngập), tuy chỉ bằng một nửa của năm 1978. Năm 1978, mưa lớn ở đồng bằng kết hợp với vỡ đê nên ngập lụt rất nghiêm trọng (hình P.18). Tình hình ngập lụt úng ở 3 vùng của Nghệ Tĩnh như sau: – Vùng Nam – Hưng – Nghi (huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc). Đồng bằng Nam-Hưng-Nghi có diện tích canh tác khoảng 48.700ha. Cao trình mặt ruộng khoảng 4,00-5,15m chiếm 17.700ha, còn lại 31.000ha thuộc vùng thấp, có cao trình từ 0,7-3,0m, là vùng thường xuyên bị ngập úng. Trong trận lũ lụt lớn tháng IX.1978, lượng mưa bình quân khu vực này là 1134mm (từ 15- 28/IX), tương đương với 1,2 tỉ m3 nước bao phủ trên diện tích 105.500ha. Ngày 27/IX, khi lũ Nam Đàn lên báo động 3 lần thứ hai thì đê sông Cả ở Cẩm Thái và Đồng Văn (huyện Thanh Chương) bị vỡ 25 chỗ, tổng độ dài tới 730m, sâu từ 2-3,5m. Nước lũ tràn sang thượng nguồn sông Rào Gang gây ngập sâu tới 4 – 5m, sau đó chia làm 2 ngả: một ngả chảy xuôi dòng Rào Gang rồi trở lại sông Cả ở phía dưới trạm thủy văn Yên Thượng khoảng 1km, một ngả tràn sang sông Cửa Lò đổ ra biển.

Những hướng chính thoát nước lụt là: Hướng thoát nước mưa là từ Nam Đàn ra Bến Thủy (hướng Tây Bắc – Đông Nam) với chênh lệch mực nước khoảng 1,1m và từ Ngã ba Mượu ra Cửa Lò (hướng Bắc – Nam) với chênh lệch mực nước khoảng 1,5m. Hướng thoát nước lụt từ đê Cấm (Thanh Chương) sang Cửa Lò, theo hướng Đông-Tây qua các triền ruộng thấp tràn vào sông Cửa Lò rồi ra biển và từ đê Đồng Văn (Thanh Chương) ra Yên Thượng, dọc theo bờ tả sông Cả, theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.

Diện ngập lụt, úng: Diện tích bị úng thường xuyên là một giải hẹp dọc Kênh Thấp thuộc huyện Nam Đàn và mở rộng xuống phía Nam tới gần sông Lam trên đất huyện Hưng Nguyên (Nam thành phố Vinh); một giải khác nằm dọc Kênh Gai, từ trạm bơm 16 thuộc Hưng Đông lên đến gần Cửa Lò thuộc Nghi Lộc. Trong trận lũ lớn năm 1978, các vùng ngập thường xuyên tăng gấp hơn 2 lần, đặc biệt là ở vùng Nam Đàn (tả và hữu ngạn sông Lam) và vùng sông Cửa Lò.

Diện ngập do mưa úng nội đồng rất rộng lớn. Ngày 21/IX, khi cơn bão số 8 đã đổ bộ thì mưa tích lũy ở đồng bằng lên tới 500 – 700mm, trong khi lũ tại Nam Đàn mới trên báo động 2 thì nước nội đồng đã cao hơn nước ngoài sông, úng có thể tiêu tự chảy. Ngày 22/IX, khi lũ trên sông lên báo động 3, cao hơn nước nội đồng, thì các công trình tiêu bị ngập, kênh bị vỡ và không còn phát huy tác dụng. Hệ thống trạm bơm, kênh tiêu Nam-Hưng-Nghi không đủ năng lực tiêu úng.

Diện ngập lụt do vỡ đê bắt đầu từ ngày 27/IX khi lũ trên sông lên lại sau bão số 9, còn trong đồng đã ngập úng nghiêm trọng. Diện ngập lụt do vỡ đê gồm 2 giải hẹp, tách hẳn khỏi diện úng nội đồng. Nó bao lấy vùng Nam-Hưng-Nghi ở phía Bắc và phía Tây. ở phía Tây, giải ngập lụt chạy men theo bờ tả sông Cả đến Yên Thượng, ở phía Bắc giải ngập lụt nằm dọc theo ruộng mùa ở giữa các khu đồi và ruộng chiêm ở 2 bên bờ sông Cửa Lò và hòa trộn vào khu úng nội đồng, gây cản trở việc tiêu ra sông Cửa Lò. Diện ngập lụt ở bờ tả sông Lam là 24.167ha trong đó, 16.133ha bị mất trắng. Diện ngập lụt ở bờ hữu sông Lam là 4.080ha. Độ ngập sâu. Trên các đồng ruộng, ngập sâu từ 3-4m, ở các đường giao thông, từ 1-2m, có nơi 4-5m. Quốc lộ 1A và đường sắt bị ngập chủ yếu ở phía nam thành phố Vinh và Cầu Cấm qua Cửa Lò, đường 49 từ Vinh đi Nam Đàn bị ngập toàn tuyến.Thời gian ngập trong đồng từ 15-20 ngày, đường giao thông, từ 11 – 15 ngày.

+ Vùng Diễn Châu – Yên Thành – Quỳnh Lưu gồm 2 khu: khu Quỳnh Lưu chạy từ hữu ngạn sông Hoàng Mai xuống phía Nam tới kênh Tố Khê và Sơn Tịnh, và khu Diễn Châu, ở phía Nam kênh Vách Bắc. Do cao trình chỉ 0,3 – 3,5m nên thường xuyên bị ngập úng và được tiêu nhờ kênh Diễn Hoa đổ ra cống Diễn Thủy và sông Bùng đổ ra cống Diễn Thành. Trong trận lụt năm 1978, mưa bình quân khu vực từ 15-28/IX là 1134mm. Tuy có nhiều hồ chậm lũ và kênh Vách Bắc tiêu úng, nhưng do mưa lớn, một số đập và kênh bị phá gây ngập úng nặng ở đồng bằng. Diện ngập là 21.000ha. Quốc lộ 1A và 7 bị ngập ở nhiều nơi, có đoạn ngập tới 17 – 19 ngày.

+ Vùng Đức Thọ – Can Lộc. Đồng bằng Đức Thọ-Can Lộc có dạng lòng chảo, được bao bọc bởi dãy núi Hồng Lĩnh ở phía Đông và Trà Sơn ở phía Tây. Độ cao tự nhiên từ 1,0-2,5m, thấp nhất là các xã ven sông Nghèn như Đức Hồng, Đức Thịnh, Đức Bình, Đức Thủy, Kim Lộc, Vương Lộc,…Mưa từ 15-28/IX/1978 tại Trung Lương là 1209mm, tại Hà Tĩnh 1465mm. Ngày 23/9, sau mưa bão số 8, lượng mưa ở đồng bằng mới đạt 600-700mm và sông Lam đang ở đỉnh của đợt lũ đầu (Linh Cảm 6,15m, Trung Lương 5,40m), thì hầu hết các nơi đã bị ngập úng. Mực nước trong đồng tại Trung Lương là 3.15m, thấp hơn nước sông nên không thể tiêu ra cống Trung Lương. Hướng tiêu ra sông Nghèn để đổ ra Cửa Sót lại bị triều cao nên tiêu rất chậm. Vì thế, khi có bổ sung mưa bão số 9, hầu hết diện tích canh tác, nhiều làng xã đã ngập chìm trong nước. Diện ngập lên tới 20.000ha. Nhiều nơi ngập sâu 2-3m, quốc lộ số IA có nhiều nơi ngập sâu 0,8 – 1,2m.

+ Vùng Trung Thượng Du. Ngoài 3 vùng úng, lụt trọng điểm nêu trên, nhiều vùng ở dọc sông Hiếu (huyện Tân Kỳ), sông Cả từ Dừa về Nam Đàn (huyện Anh Sơn, Thanh Chương) và sông Ngàn Sâu (huyện Hương Khê) cũng bị ngập lụt do lũ lớn ngoài sông với tốc độ nhanh, ngập sâu, song thời gian ngập chỉ kéo dàI 1 -2 ngày.

Thiệt hại do 2 trận lũ lụt úng ngập lịch sử năm 1978 và 1988 trên lưu vực sông Cả và sông La là rất lớn.

Theo Trung Tâm TVTW

Aside | This entry was posted in About Trang chủ, Quê Hương, Tin tức trong nước and tagged , , , , , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s