Lúa thuần Thiên ưu 8: sự lựa chọn hợp lý của nhà nông

Thiên ưu 8 là giống lúa thuần chất lượng được Cty CP Giống cây trồng Trung ương (NSC) chọn tạo từ bộ giống nhập nội. Đây là giống có tiềm năng năng suất cao, khả năng thay thế cho giống Khang dân 18.

Thiên ưu 8 là giống lúa thuần cảm ôn trồng được cả 2 vụ, có thời gian sinh trưởng ngắn: Vụ xuân: 125 -130 ngày; Vụ mùa 105 – 110 ngày.

Ưu điểm: Thiên ưu 8 là giống có thời gian sinh trưởng tương đương khang dân 18. Là giống chất lượng, tiềm năng năng suất cao và có nhiều ưu điểm như thích ứng rộng, chất lượng gạo tốt, cơm trắng, bóng, mềm, TGST ngắn, chống đổ khá, chống chịu hầu hết các loại sâu bệnh như đạo ôn, khô vằn, bạc lá…. Giống lúa Thiên ưu 8 có kiểu thân cây gọn, lá đứng dạng lòng mo có màu xanh sáng, góc lá đòng hẹp, bản lá dày nên rất chịu thâm canh.

Đây là giống lúa có khả năng thay thế giống Khang dân 18, Q5. Thiên ưu 8 có thể gieo cấy được trên các chân đất vàn vàn cao, vàn hơi trũng.

Hiện nay, Thiên ưu 8 đã được khảo nghiệm tại nhiều địa phương như Quảng Nam, Hà Nội, Thanh hóa, Bắc Ninh, Bắc Giang. Kết quả cho thấy, năng suất trung bình từ 65-70 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 75 -80 tạ/ha. Thiên ưu 8 hạt gạo ngon, không bạc bụng, tỷ lệ gạo nguyên cao; Cơm trắng, mềm, vị đậm.

Để phục vụ cho sản xuất, khách hàng có nhu cầu có thể liên hệ tới: Công ty CP giống cây trồng Hà Tây (là đơn vị thành viên của Công ty giống cây trồng TW0. Vì vậy, khách hàng có nhu cầu về giống có thể liên hệ trực tiếp tới địa chỉ liên hệ.

AB

Advertisements
Đăng tải tại Giống mới - Kỹ thuật mới, Nông nghiệp - Nông thôn, Tin tức, Tin tức trong nước | Thẻ , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ngô Nếp HN 90 mang tới thu nhập cao cho người nông dân

NVT

Hiện nay trên thị trường ngô nếp giống có rất nhiều loại giống tốt do nhiều đơn vị, công ty cung ứng cho bà con nông dân. Tuy  nhiên, giống ngô Nếp có năng suất cao, chất lượng tốt, ngắn ngày, mang lại hiệu quả cao thì không thực sự nhiều.

Chính vì thế, nhằm tạo ra sự khác biệt so với các bộ giống ngô nếp khác trên thị trường đồng thời nhằm đáp ứng nhu cầu về giống có chất lượng và mang lại hiệu quả thu nhập cao cho người nông dân. Sau lần lượt các sản phẩm HN88, HN68,…. Công ty giống cây trồng TW đã nghiên cứu và chọn tạo giống nếp lai F1 HN90 có đặc điểm ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng thơm ngon. Thời gian qua, nhiều mô hình đã được triển khai tại các địa phương thuộc các tỉnh miền Bắc và miền trung như Thừa Thiên Huế, Quãng ngãi đều được đánh giá cao về chất lượng và năng suất, hứa hẹn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông hộ.

Xã viên HTX NN Hương Long – Thừa Thiên Huế đánh giá: ““Nếu so với giống bắp nếp lai HN 88 thì năng suất, chất lượng bắp nếp lai HN90 không bằng, nhưng đem so với một số giống bắp mà nông dân chúng tôi đang sản xuất trên địa bàn thì vượt trội nhiều. Qua gieo trồng tôi nhận thấy trong vụ Đông Xuân nên sử dụng giống bắp nếp lai HN 88, vì có bộ rễ chân kiềng phát triển mạnh, khả năng chống đổ ngã rất tốt, còn ở vụ Hè Thu thì nên gieo trồng giống nếp lai HN90, vì khả năng chịu hạn tốt.” (Nongnghiep.vn)

Tại Quảng Ngãi, một nông dân cho biết: HN90 sinh trưởng ngắn ngày, bắp to, đẹp. Đặc biệt là chất lượng ngon, dẻo và năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt. Năng suất đạt 2.500 bắp/sào, thương lái ra giá 3,2 triệu đồng cả ruộng, còn bán lẻ thì 1.300 đ/bắp. Mua cả ruộng thương lái tự bẻ lấy bắp để cây lại, còn bán lẻ thì chủ ruộng phải bẻ. (nongnghiep.vn)

Theo đó, nếu hạch toán kinh tế sơ qua có thể thấy, sau khi trừ chi phí đầu tư tiền giống, phân bón, thuốc BVTV, công chăm sóc… hết khoảng 1,2 triệu đồng thì hộ nông dân vẫn thu lãi 2 triệu đ/sào. Nếu canh tác liên tục thì 1 năm trồng được 4 vụ và thu lãi được 8 triệu đ/sào/năm.

Lý giải cho việc HN90  được đánh giá cao tại các địa phương sau khi trồng thử giống ngô này là bởi:

GIONG_NGO_NEP_LAI_F1_HN90-190x120

Ngô HN 90 năng suất chất lượng

Về sinh trưởng: HN90 có thời gian sinh trưởng ngắn ngày, thời gian gieo đến thu hoạch là 60 – 65 ngày Cây cao từ 160 -165 cm, cao đóng bắp là 65 -70 cm. HN 90 có bộ rễ chân kiềng phát triển mạnh, cứng cây, chống đổ tốt. Năng suất bắp tươi cao đạt 15- 18 tấn/ha, độ đồng đều bắp cao. Bắp dài 16-18 cm, bao kín bắp, vỏ lá bi mỏng, đóng hạt tới tận đỉnh bắp.

Về chất lượng: Thơm ngon, ăn nguội vẫn dẻo, có vị đậm và ngọt, thơm đặc trưng.

Chống chịu tốt với sâu bệnh hại chính,. HN 90 có khả năng thích ứng rộng với nhiều vùng miền.

Về Kinh tế: Năng suất cao, chất lượng tốt, thơm dẻo, quyện, (không ngon bằng HN88 nổi tiếng của công ty), người tiêu dùng ưa thích trong khi chi phí đầu tư giống và đầu tư khác thấp. Dẫn tới hứa hẹn mang lại thu nhập cao và đáng kể cho người trồng HN90.

Đăng tải tại About Trang chủ, Giống mới - Kỹ thuật mới, Nông nghiệp - Nông thôn, Tin tức, Tin tức trong nước | Thẻ , , , , , , , , , , , , , , , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đường sắt Việt Nam xác minh nghi án nhận hối lộ 80 triệu yen

Nhiều tờ báo Nhật đồng loạt đưa tin về chủ tịch một hãng tư vấn Nhật Bản thừa nhận hối lộ quan chức đường sắt Việt Nam để đổi lấy việc trúng thầu dự án ODA.

photo-president-1516-1395470462.jpg

Ông Tamio Kakinuma, Chủ tịch công ty tư vấn JTC, Nhật Bản.

Theo đó, ông Tamio Kakinuma, Chủ tịch công ty tư vấn đường sắt JTC (Japan Transportation Consultants) thừa nhận hành vi đưa hối lộ trong cuộc thẩm vấn với cơ quan điều tra Tokyo. TờYomiuri, ngày 21/3, cho biết ông này đã ký vào biên bản lời khai.

Ông Tamio Kakinuma cho hay số tiền “lại quả” phụ thuộc vào giá gói thầu nhận được. Ví dụ, ông khai để đổi lấy một gói thầu dự án ODA tại Việt Nam trị giá 4,2 tỷ yen, công ty đã “lại quả” cho quan chức 80 triệu yen (tương đương 780.000 USD hoặc hơn 16 tỷ VND theo tỷ giá hiện tại).

Đây là số tiền hối lộ lớn so với những lần “lại quả” khác của JTC. Tương tự, một dự án ODA ở Indonesia, JTC hối lộ quan chức 30 triệu yen, còn ở Uzbekistan 20 triệu yen.

Có 5 cái tên quan chức nhận hối lộ được ông Kakinuma khai ra, trong đó có một quan chức cấp cao của Đường sắt Việt Nam.

Dựa trên lời khai của ông Chủ tịch, cơ quan điều tra Nhật sẽ mở cuộc điều tra hành vi vi phạm Bộ luật Chống cạnh tranh không lành mạnh, trong đó nghiêm cấm việc hối lộ các quan chức, viên chức của cơ quan chính phủ nước ngoài.

Cũng theo nguồn tin trên, ông Kakinuma đến cơ quan điều tra khai báo tự nguyện. Trong lời khai, ông đưa ra nhiều chi tiết như hối lộ các quan chức vào thời điểm nào, số tiền bao nhiêu.

Động thái này diễn ra sau khi cơ quan thuế Tokyo phát hiện nhiều khoản chi bất thường của công ty JTC, trị giá khoảng 130 triệu yen, liên quan 5 dự án ODA Nhật Bản. Số tiền được chi vào 40 lần khác nhau, trong khoảng thời gian từ tháng 2/2008 đến tháng 2/2014.

Trao đổi với VnExpress sáng 23/3, ông Trần Ngọc Thành, Chủ tịch hội đồng thành viên Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam cho biết đã nghe thông tin Công ty Tư vấn đường sắt Nhật Bản thừa nhận trả tiền “lại quả” cho một số công chức Việt Nam, để nhận được hợp đồng cho các dự án ODA. Từ ngày 21/3, ông đã cho triển khai xác minh, yêu cầu các đơn vị viết toàn bộ báo cáo về những việc có liên quan.

“Sáng 23/3, chúng tôi tổ chức họp để nghe báo cáo và tổ chức thành lập đoàn xuống kiểm tra độc lập”, ông Thành nói và cho hay, đây là vấn đề nhạy cảm mà phía Nhật cũng chưa có thông tin chính thức hay đề nghị phối hợp điều tra, tuy nhiên phía Việt Nam sẽ rà soát những dự án mà công ty này tham gia để khoanh vùng, làm rõ và xử lý nghiêm.

Thanh Bình – Hoàng Thùy

http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/duong-sat-viet-nam-xac-minh-nghi-an-nhan-hoi-lo-80-trieu-yen-2967506.html

Đăng tải tại About Trang chủ | Thẻ , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tụt hậu so với Campuchia: Còn gì để nói?

Angkor EV 2014 là một mẫu xe ôtô được sản xuất tại Campuchia. Xe chạy điện và điều khiển được qua điện thoại thông minh. 

//

 Angkor EV 2014 do công dân Campuchia – ông Nhean Phaloek – sáng chế, Cty Heng thực hiện dự án sản xuất hàng loạt với tổng mức đầu tư 20 triệu USD.

Thương hiệu “xe hơi” này không chỉ gây bất ngờ với người dân Campuchia, mà các quốc gia khác cũng nhìn Angkor EV 2014 với sự ngạc nhiên thú vị. Bởi lẽ, trong mắt của cộng đồng quốc tế, Camphuchia là quốc gia có ngành công nghiệp ôtô còn ở mức “chưa có gì”, chưa đủ sức để cho ra đời một chiếc xe hơi nội địa.

Với Việt Nam, ngành công nghiệp ôtô của Campuchia còn “non nớt” hơn nhiều. Thế mà thực tế họ đã đi trước, cho ra đời một thương hiệu ôtô nội địa đầy tự tin và thuyết phục. Sự khởi đầu này hứa hẹn một giai đoạn phát triển tiếp theo của ngành công nghiệp ôtô Campuchia.

ô-tô-lào, ô-tô-campuchia, ô-tô, xe-máy, nhập-khẩu-ô-tô, chiến-lược-ô-tô, sản-xuất-ô-tô
Chiếc xe “Angkor EV 2014” tại buổi lễ ra mắt ở tỉnh Kandal ngày 14/2. (AFP/TTXVN)

Thực ra, nói họ đi trước là không đúng. Năm 1970 của thế kỷ trước, miền Nam Việt Nam đã từng sản xuất xe hơi La Dalat với tỉ lệ nội địa hóa lên đến 40%. Tiếc rằng, ngành công nghiệp xe hơi ra đời khá sớm và rất thành công thời đó đã không phát triển được. Cho đến nay, Việt Nam vẫn cứ lẹt đẹt đi sau các nước trong khu vực, thậm chí sản xuất không nổi con ốc hay sợi dây điện đạt chuẩn của ôtô!

Trong khi chiếc “xe hơi” Angkor đang làm bất ngờ các nước láng giềng, thì Campuchia còn tuyên bố xuất khẩu gạo vào thị trường Mỹ. Campuchia đã chuẩn bị đủ cơ sở để làm việc này. Gạo cao cấp của họ đã chiếm lĩnh được thị trường Châu Âu, đang sẵn sàng bước vào thị trường Hàn Quốc và nhắm đến thị trường Mỹ đầy thử thách.

Trước những bước đi đầy ấn tượng về chiến lược sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của Campuchia, chúng ta không khỏi giật mình nhìn lại.

Hóa ra bao năm nay, hạt gạo Việt Nam vẫn chỉ dựa chủ yếu vào thị trường Trung Quốc và một số nước lân cận. Hạt gạo của Campuchia vươn tới các tiêu chuẩn chất lượng cao thì gạo Việt Nam vẫn chỉ là loại phẩm cấp thấp. Bao năm nay, dù cố gắng mấy phẩm cấp cũng không cao hơn hạt gạo Thái Lan, nay tiếp tục bị hạt gạo Campuchia bỏ lại phía sau.

Càng nghĩ càng thấy lo, bởi chúng ta không hề có thương hiệu gạo chất lượng cao để có thể cạnh tranh trên các thị trường khó tính.

Chỉ cần đề cập đến hai mặt hàng trên và so sánh cũng đủ thấy nguy cơ tụt hậu đã rõ ràng. Nguy cơ này chắc chắn không phải do dân mình trí tuệ thấp kém hơn dân nước khác, mà vì đang thiếu những chính sách đúng đắn.

(Theo Lao Động)

Đăng tải tại About Trang chủ, Tin tức, Tin tức trong nước | Thẻ , , , , , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

BÁO CÁO: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIÊP VEN ĐÔ THEO HƯỚNG HIỆU QUẢ CAO VÀ BỀN VỮNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Nguyễn Thắng

Nông nghiệp ven đô là một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá cung cấp cho khu vực đô thị, có ý nghĩa rất quan trọng với khu vực đô thị, vì đây nơi cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm chính cho cư dân đô thị. Thị trường đô thị luôn đòi hỏi người nông dân phải cung cấp nông sản, hàng hóa có chất lượng cao, mới lạ do đó người dân phải biết chuyển đổi hình thức sản xuất nông nghiệp truyền thống, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đặc biệt là với những đô thị lớn như Hà Nội.

Các loại hình tổ chức nông nghiệp đã tồn tại từ lâu đời tại Hà Nội như hợp tác xã hay các loại hình mới hình thành trong những năm gần đây như trang trại, công ty, doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong sản xuất, đã và đang từng ngày góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp đặc biệt là tại các cùng ven đô để tạo nên vành đai nông nghiệp quanh thành phố Hà Nội.

Mỗi loại hình tổ chức sản xuất tại Hà Nội có một chức năng và cách hoạt động khác nhau và liên kết với nhau trong sản xuất nông nghiệp đã tạo nên một nền nông nghiệp đa dạng về chủng loại sản phẩm, sản lượng và chất lượng đều được cải thiện, đa dạng nguồn vốn cho người nông dân có thể đầu tư sản xuất và tăng cường khả năng tiếp cận khoa học, kỹ thuật mới cho người nông dân. Quá trình liên kết giữa các loại hình tổ chức đã hình thành nên chuỗi nông nghiệp hợp đồng trong tiêu thụ sản phẩm đã làm thay đổi sản xuất nông nghiệp Hà Nội theo hướng chuyên hóa.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế là sự phát triên của hệ thống bán buôn, bán lẻ rộng khắp thì những loại hình tổ chức nông nghiệp không có sự thay đổi phù hợp đều dần mất đi chức năng như vai trò của một số hợp tác xã trong sản xuất không còn nhiều, nhiều nơi chỉ còn là hình thức; một số doanh nghiệp và trang trại đã phá sản, tình trạng phá vỡ hợp đồng liên kết trong sản xuất diễn ra phổ biến. Sự thay đổi của chính sách nhà nước làm thay đổi tổ chức sản xuất và mối liên kết giữa các tổ chức với nhau và làm thay đổi phương thức sản xuất của người nông dân. Vậy, thực trạng các tổ chức sản xuất hiện nay tại Hà Nội ra sao? Và tác động tới sản xuất nông nghiệp ven đô như thế nào? Để làm sáng tỏ các vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: Đánh giá thực trạng phát triển các loại hình tổ chức và mối quan hệ giữa các loại hình tổ chức trong phát triển nông nghiệp ven đô đạt hiệu quả cao và bền vững

PHẦN I. MỞ ĐẦU.. 5

PHẦN II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.. 7

2.1. Phương pháp chọn mẫu. 7

2.2. Phương pháp phân tích thông tin: 7

2.3. Phương pháp xử lý số liệu. 7

PHẦN III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.. 8

PHẦN III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.. 8

3.1. Đánh giá thực trạng phát triển của các tổ chức kinh tế hợp tác của nông dân thành phố Hà Nội 8

3.1.1. Thực trạng tổ chức và phát triển của hợp tác xã trong thời gian qua. 8

Bảng 1: Loại hình hợp tác xã nông nghiệp tại Hà Nội

Chỉ tiêu Số lượng Cơ cấu %
Chuyển đổi 664 81.27
Thành lập mới 153 18.53
– Mới hoàn toàn 50 32.68
– Từ tổ hợp tác 3 1.96
– Sát nhập, tách 100 65.36

(Nguồn: Bộ số liệu HTX 2010_Điều tra NT-NN-NT 2011)

Bảng 3: Thông tin cơ bản về Hợp tác xã nông nghiệp

Chỉ tiêu ĐVT Trung bình Độ lệch chuẩn Min Max
Số năm hoạt động Năm 13.47 4.2 1 52
Thành viên ban quản trị Người 2.94 1.808 1 31
Thành viên ban kiểm soát Người 1.285 0.806 0 15
Chuyển đổi từ HTX cũ Người 1268.4 1348.69 4 7650
Thành lập mới Người 454.84 530.40 4 3965
Số xã viên/hợp tác xã Người 1115.85 1277 4 7650
Xã viên là cá nhân Người 1463.548 1559.046 0 7433
Xã viên là đại diện hộ Người 887.612 913.8694 0 6890
Xã viên là đại diện pháp nhân Người 0.833 0.4082483 0 1
Lao động làm viêc thường xuyên/HTX Lao động 17.19 49.51 2 1366
LĐ là xã viên ngoài HTX Lao động 16.81 49.51 2 1366
LĐ thuê ngoài thường xuyên Lao động 8.61 10.845 1 50

(Nguồn: Bộ số liệu HTX 2010_Tổng điều tra NT-NN-ND 2011)

3.1.2 Đánh giá hoạt động của HTX nông nghiệp trên địa bàn Hà Nội 16

3.2 Đánh giá thực trạng phát triển của loại hình kinh tế trang trại trong phát triển nông nghiệp ven đô hiệu quả cao và bền vững của thành phố. 18

3.2.1. Thực trạng phát triển về số lượng và các loại hình kinh tế trang trại trong thời gian qua. 18

3.2.2. Thực trạng phát triển kinh tế trang trại theo nguồn lực. 21

Theo số liệu điều tra tại các quận huyện của Thành phố Hà Nội những năm qua cho thấy, giai đoạn 2008 – 2010 số lượng trang trại tăng lên hàng năm với tốc độ tăng bình quân giai đoạn là 15.88%/năm. Trong đó, chủ yếu phân bổ ở các huyện Chương mỹ, Đông Anh, Phú Xuyên, Ứng Hòa, Quốc Oai….. đây là những huyện có nhiều điều kiện thuận lợi về quỹ đất, cũng như thế mạnh của từng vùng để phát triển các loại hình trang trại tương ứng, cùng với các chủ trương chính sách khuyến khích ưu tiên phát triển các loại hình trang trại của Nhà nước và thủ đô Hà Nội. Tuy nhiên điều đáng nói, đến năm 2011 thì số lượng trang trại giảm đột biến chỉ còn 1124 trang trại, giảm 68.43%, và tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2008 -2011 là (-24/88%)/năm.

3.2.3. Thực trạng sản xuất kinh doanh của trang trại 26

Bảng 13: Tiêu chí lựa chọn đối tượng bán của trang trại

Chỉ tiêu Số lượng ý kiến Cơ cấu (%)
% ý kiến trả lời % trường hợp lựa chọn
Giá cao 11 26.19 61.11
Mối quan hệ lâu dài 15 35.71 83.33
Hưởng ưu đãi tín dụng nhỏ (ứng trước tiền, thanh toán chậm, ….) 8 19.05 44.44
Có quan hệ họ hàng 1 2.38 5.56
Ràng buộc về hợp đồng kinh tế 4 9.52 22.22
Sự tin tưởng lẫn nhau 2 4.76 11.11
Không có sự lựa chọn nào khác 1 2.38 5.56

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra 2012)

Bảng 14: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các loại hình trang trại

ĐVT: Tr. đồng/năm

Chỉ tiêu Loại hình trang trại
Chăn nuôi NTTS Tổng hợp
Giá trị sản xuất (GO) 2158 776.6 758.85
Chi phí trung gian (IC) 1315.4 480.8 493.1
Giá trị gia tăng (VA) 842.6 295.8 265.75
Thu nhập hỗn hợp (MI) 398.5 110.2 131.5
GO/IC 1.641 1.615 1.539
VA/IC 0.641 0.615 0.539
MI/IC 0.303 0.229 0.267

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra CASRAD, 2012)

3.2.4. Thực trạng vấn đề bảo vệ môi trường trong phát triển trang trại tại Hà Nội. 29

3.2.5. Phân tích khó khăn rào cản trong phát triển kinh tế trang trại ở Hà Nội 30

Bảng 15: Nhận định về khó khăn vướng mắc của kinh tế trang trại thành phố

 Chỉ tiêu Số lượngý kiến Cơ cấu %
% tổng số câutrả lời % trường hợplựa chọn ý kiến
Thiếu đất 261 7.43 23.37
Thiếu khoa học kỹ thuật 503 14.31 45.03
Vốn 983 27.97 88
Thiếu thông tin thị trường 377 10.73 33.75
Giống 350 9.96 31.33
Dịch vụ hỗ trợ 426 12.12 38.14
Lao động 109 3.1 9.76
Khó tiêu thụ sản phẩm 469 13.34 41.99
Khác (quản lý nhà nước, ….) 37 1.05 3.31
Tổng 3515 100 314.68

(Nguồn: Tổng hợp xử lý từ số liệu tổng điều tra NN-NT 2011)

3.3.  Đánh giá thực trạng phát triển của các công ty, doanh nghiệp đầu tư vào phát triển nông nghiệp ven đô hiệu quả cao và bền vững ở thành phố. 34

3.4.  Đánh giá thực trạng liên kết giữa loại hình tổ chức kinh tế trong phát triển nông nghiệp ven đô hiệu quả cao và bền vững của thành phố. 37

PHẦN IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40

4.1. Kết luận. 40

4.2. Kiến nghị 41

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO   43

 

Đăng tải tại About Trang chủ, Nông nghiệp - Nông thôn, Tài liệu, Tin tức, Tin tức trong nước, Trồng trọt | Thẻ , , , , , , , , , , , , , , , , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bùng nhùng chuyện hộ nghèo ở Trù Sơn

(Dân trí) – Ở vào thế chẳng đặng đừng người ta mới đành chịu cho người khác đưa mình vào danh sách hộ nghèo. Vậy mà việc xét hộ nghèo vừa qua tại Trù Sơn – Đô Lương (Nghê An), cái việc đáng lẽ chẳng ai dám nói lớn ấy lại bùng nhùng bao nhiêu điều đáng nói.

Gia đình nghèo xác xơ của chị Linh làm đơn khiếu nại vì không được hộ nghèo.
Gia đình nghèo xác xơ của chị Linh làm đơn khiếu nại vì không được hộ nghèo.

Nhà không ruộng vẫn “rớt” hộ nghèo

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH HỘ NGHÈO TẠI HUYỆN NAM ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
1 số địa chỉ dữ liệu phục vụ nghiên cứu Kinh tế- xã hội (VHLSS, Phần mềm STATA, dữ liệu nông nghiệp, Nông sản,….)

Bà mẹ đơn thân Dương Thị Linh, 43 tuổi, trú xóm 4, là một hộ thuộc diện nghèo rớt mồng tơi. Nghèo đến mức không có tài sản chi để kể, đến cả sào ruộng cũng không có để làm ra hột gạo bỏ bụng. Chị Linh, trước có một đời chồng nhưng đã chia tay, nay chị và cậu con trai Nguyễn Xuân Vị, 14 tuổi, hai mẹ con co kéo nhau để sống. Khốn nỗi che chỗ này thì hở chỗ khác. Khi đến, chỉ có mẹ Linh ở nhà, Vị đang mải miết ở đồng bắt con giam, con cua đi bán.

Người dân đưa đơn trao đổi với PV Dân trí.
Người dân đưa đơn trao đổi với PV Dân trí.
Người dân đưa đơn trao đổi với PV Dân trí.

Bà Nguyễn Thị Tính chỉ cho PV biết cái giường bị đánh giá 2 triệu đồng, trong khi đó chiếc giường này chỉ đáng giá 200-400 ngàn đồng.

Thằng bé lớp 8, đen trùi trụi nhìn vào máy ảnh lấm lép, bất động. Áo quần lem nhem màu bùn càng làm cho cơ thể đen đúa của Vị lọt thỏm. Hôm nay Vị bắt được 3 lượng giam, mỗi lượng người làng mua cho với giá 2.500 đồng. Cả thảy, một buổi trưa dãi nắng bể đầu ngoài ruộng cũng chỉ kiếm được 7,8 ngàn bạc. Số tiền đó ra tạp hóa chỉ đủ mua hai gói mì tôm.

Nhưng lâu nay Vị không biết đến mùi mì, được mấy tiền là phải đi đổi gạo ngay trong ngày. Vì chẳng có gì để nấu nướng, Vị và mẹ bày luôn bếp ra trước hiên nhà cho thoáng. Cái bếp dã chiến nằm chình ình một góc chỉ có nồi dọc mùng kho muối làm thức ăn. Dọc mùng người ta dùng trong bữa ăn cho lạ miệng, chứ với Vị và mẹ, vị chát chát mằn mặn của dọc mùng đã không kiểm đếm được là bao nhiêu ngày rồi.
Người dân đưa đơn trao đổi với PV Dân trí.
Bà Linh trong căn nhà gần sập những vẫn không được xã bình xét hộ nghèo, trong khi đó năm trước bà cũng nằm trong diện hộ nghèo.
Gia đình Nguyễn Hữu Chút trước căn nhà tồi tàn của mình.   

Gia đình Nguyễn Hữu Chút trước căn nhà tồi tàn của mình.

Chị Ngọc, người cùng xã, cũng là người dẫn lối chúng tôi vào nhà Vị, luôn chép miệng than: “Nhà như o Linh mà không được hộ nghèo thì tui không biết nhà mô nên được. Nghe các chú về nên tôi chỉ các chú đến nhà o, chứ xã không cho hai mẹ con nó vào diện hộ nghèo thì tội cho mẹ con nó lắm”.

Người đã nghèo thì người ta lại hay thương người nghèo như mình, cùng lâm vào một cảnh ít ai còn nỡ lòng nào đi phản bác người khác. Nhưng sự tình ở xóm 4, cái ùm xùm bỏ người người này đưa người kia vào danh sách phải nói rõ ràng là do ban cán sự đã hoàn toàn sai. Danh sách đưa lên bị người dân phản ứng khi bỏ mặc những hộ nghèo rách, để cho vào danh sách một số hộ chưa đến mức được gọi là nghèo.

Ở xóm này, xét từ hộ nghèo kiệt đến hộ nghèo vừa, thì các gia đình Nguyễn Đình Thanh, Phạm Bá Hùng, Đào Tất Kỷ.. cho dù hoàn cảnh có ít nhiều khó khăn, nhưng vẫn còn có thể gọi là “hơn” về đường ăn ở so những gia cảnh khác. Và cho dù những hộ này đều có số điểm tài sản vượt mức quy định, nhưng xóm vẫn cho vào danh sách. Và xã Trù Sơn chút nữa đã hợp thức hóa vào danh sách gửi lên huyện Đô Lương.
Hai mẹ con chị Linh quá xác xơ trong căn nhà tàn nhưng vẫn không được hộ nghèo.
Hai mẹ con chị Linh quá xác xơ trong căn nhà tàn nhưng vẫn không được hộ nghèo.
Ông Chút bị tàn tật lâu năm, nhưng năm nay gia đình ông cũng bị cắt chế độ hộ nghèo?.

Ông Chút bị tàn tật lâu năm, nhưng năm nay gia đình ông cũng bị cắt chế độ hộ nghèo?.

Bị bệnh tim từ mấy năm, chị Linh vừa nói vừa thở mới có sức nói hết chuyện: “Từ khi Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo, từ mấy năm nay, thì chỉ năm vừa qua (2013) là nhà tui được xét, nên mới có được ít chế độ. Còn xét cho năm sau thì xã lại không cho nữa. Tui giờ không biết kêu mô”.

Về tình cảnh gia đình chị Linh, ông Nguyễn Thủy Đờu – Chủ tịch UBND xã Trù Sơn – cho phóng viên Dân trí biết: “Về vấn đề hộ nghèo là do dưới xóm 4 làm sai, hàng năm xét được bao nhiêu hộ là họ cho dân luân phiên được hưởng, năm nay nhà này thì năm sau gia đình khác. Cứ cào bằng thế. Năm nay hộ o Linh được hưởng nên họ xét năm sau không cho nữa. Sau khi phát hiện, xã yêu cầu xóm không được làm như vậy, hiện xã đang chỉ đạo dưới xóm đưa lên bản danh sách mới”.

Xóm trưởng bức xúc với xã… vì bình xét hộ nghèo

Xóm trưởng xóm 12 (xã Trù Sơn) ông Trần Công Định chua chát nói về chuyện xóm nghèo: “Xóm 12 có 106 hộ, phải có trên 30, đến gần 40% dân thuộc diện hộ nghèo. Dân và ban chỉ huy xóm có đưa vào danh sách nhưng xã không chấp thuận. Khi đầu xã áp xuống số hộ nghèo là 11, sau nâng lên thành 13. Chúng tôi nhận định chắc chắn là cả xóm nếu xét đến diện hộ nghèo thuộc diện không thể bỏ mặc là 18. Cho nên 5 hộ kia phải nằm ngoài danh sách. Những hộ được vào danh sách, được gọi vui là những hộ “độc đắc”.

Bà con năm trước được, năm nay lại không, cứ nghĩ xóm trưởng “đi đêm” nên cho nhà này gạt nhà kia. “Bà con còn trách tui lắm, nhưng số hộ nghèo chỉ có chừng đó, toàn thuộc diện các cụ già yếu, cô quả cả, biết làm răng cho vừa lòng mọi người”, anh Định giãi bày.
Ông Chút bị tàn tật lâu năm, nhưng năm nay gia đình ông cũng bị cắt chế độ hộ nghèo?.
Gia đình bà Tính có đứa con trai được cho là có việc làm thu nhập mỗi tháng hơn 600 ngàn, trong khi đó, đứa con trai út ở với bà đang học lớp 12.

Trưởng xóm lật danh sách nêu những trường hợp mà bản thân anh cũng thấy khó xử, như nhà bà Nguyễn Thị Khương, vợ của chủ hộ Nguyễn Hữu Chút. Hai người đều có vấn đề về sức khỏe, bà đau yếu, ông bị tật tay chân khuỳnh ra làm gì cũng không vững. Hay như hộ bà Nguyễn Thị Hòa, chồng mất từ năm 2010, nuôi năm đứa con, rõ ràng là khốn khổ, quanh quẩn mấy mẹ con 3 sào ruộng. “Nhưng xét hộ nghèo có phải là cứ đông con là được đâu. Ít ra là đang có sức, có nhân lực lao động, chứ còn các cụ, già yếu neo người, cũng phải xét đến cho người ta chứ”.

Anh Định bức xúc: “Cái này tôi nói thẳng, các anh cứ cho lên báo, tôi không sợ xã nói đâu. Nhưng quả thật, chỉ dám xét ở xóm tôi thì cái bệnh thành tích, bệnh xuất sắc, mà áp dụng chỉ cho 12% số hộ được nghèo là do xã. Xã sợ dân nghèo nhiều, ảnh hưởng đến thành tích”.
Đống rơm của bà Tính chỉ đáng giá 50 ngàn đồng, nhưng bị đánh giá là 300 ngàn đồng.

Đống rơm của bà Tính chỉ đáng giá 50 ngàn đồng, nhưng bị đánh giá là 300 ngàn đồng.

“Ngay như tôi, dân 100% bầu tôi làm xóm trưởng, lại 100% xét tôi vào danh sách hộ nghèo, là dân bầu, chứ tôi không lợi dụng chức xóm trưởng để quyết cho mình. Mà xã cũng không cho. Nhà tôi 7 người, 5 đứa con, đứa lớn vừa cho nghỉ học, không thì không có chi mà cho theo học được. Mấy đứa sau còn nhỏ, phải cho nó học cho biết chữ. Đứa đầu nghỉ, tôi cũng đau lắm, nhưng lấy đâu ra mà học. Mang tiếng trưởng xóm mà con phải bỏ học nửa chừng…”.
Chủ tịch xã Nguyễn Thủy Đờu phân trần: xã đánh giá các hộ thuộc diện nghèo là theo tiêu chí nhà nước đặt ra, có ba-rem cả. Nhà nước đặt ra thang điểm, nhà nào dưới 43 điểm (tài sản) thì được xét vào diện hộ nghèo. Ban cán sự các xóm đánh giá xong rồi gửi lên xã xét duyệt. Nhiều khi do đánh giá tùy từng con người nên có sự sai khác, có người đồng tình có người không.
Nguyễn Thủy Đờu - Chủ tịch UBND xã Trù Sơn trao đổi với PV Dân trí.
Nguyễn Thủy Đờu – Chủ tịch UBND xã Trù Sơn trao đổi với PV Dân trí.

Còn việc hạn chế tỷ lệ hộ nghèo? Ông Đờu cho rằng là xã không có chủ trương đó. Cả xã Trù Sơn có trên 2500 hộ, theo nghị quyết của Đảng bộ xã mà ông Đờu cho biết thì trong nhiệm kỳ năm năm 2010-2015, phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo toàn xã giảm dần theo từng năm.

Như năm ngoái (2012) là 14,3%, năm nay theo nghị quyết là giảm tỷ lệ xuống còn 12%. Tỷ lệ đó, như xóm trưởng Định bày tỏ “không biết xóm khác thế nào, nhưng xã chỉ áp xuống 13 suất/106 hộ cho xóm 12 mà thôi”.

Nguyễn Duy – Danh Thắng

Đăng tải tại About Trang chủ, Quê Hương, Tin tức, Tin tức trong nước | Thẻ , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Những trận lũ, lụt điển hình ở Hệ thống sông Cả (Nghệ An – Hà Tĩnh)

1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên

Sông Cả phát nguyên từ tỉnh Xiêng Khoảng thuộc Lào, ở độ cao 2.000m, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam qua tỉnh Nghệ An và đổ ra biển Đông tại Cửa Hội. Sông dài 531 km, phần thuộc Việt nam dài 351 km. Lưu vực có diện tích 27.200 km2, phần ở Việt Nam là 17.730km2; cao bình quân là 294 km, độ dốc bình quân 18,3%; độ rộng bình quân 89 km. Mật độ lưới sông 0,6 km/km2. Sông Cả có nhiều nhánh, bờ hữu có 39 nhánh cấp 1 và cấp 2, bờ tả có 47 nhánh cấp 1 và cấp 2. Hai nhánh chính là:
Sông Hiếu ở tả ngạn, phát nguyên từ bản Chiềng, huyện Quỳ Châu, Nghệ An ở độ cao 700m đổ vào sông Cả ở Đào Giàng. Sông dài 228 km. Lưu vực có diện tích 5340 km2, cao bình quân 303m, độ dốc bình quân 13%, chiều rộng bình quân 32,5 km. Sông Ngàn Sâu ở hữu ngạn, đổ vào sông Cả ở Trường Xá, phía hạ lưu trạm Nam Đàn 30 km. Sông dài 135 km, chảy hoàn toàn trong tỉnh Hà Tĩnh, diện tích 2310 km2. Độ cao nguồn sông 1100m, độ cao bình quân lưu vực 362 m, độ dốc bình quân lưu vực 28,2%, chiều rộng bình quân lưu vực 46,6km.
Sông Cả, từ thượng du đến trung du, chảy qua vùng đồi núi. Phía trên Cửa Rào, Nghĩa Khánh là những vùng rừng già. Từ Dừa trở xuống, lòng sông ít dốc hơn, thung lũng mở rộng, nhiều đồi trọc và ruộng đồng bằng phẳng. Diện tích khu giữa từ Cửa Rào và Nghĩa Khánh đến Dừa là 4.030 km2, từ Dừa đến Nam Đàn là 3.200km2. Đồng bằng sông Cả rất thấp, thường xuyên bị ngập úng khi mưa to. Có 3 vùng ngập chính :

+ Vùng Nam Đàn – Hưng Nguyên – Nghi Lộc, diện tích canh tác khoảng 48.700 ha. Nước trong vùng này thoát qua Kênh Thấp từ Nam Đàn chảy theo hướng Đông Nam, tới Mượu (Hưng Thái) thì tách ra làm 2 nhánh: kênh Hoàng Cầm đổ ra Bến Thủy để tiêu ra sông Cả qua trạm bơm Bến Thủy, nhánh khác là Kênh Gai lên phía Bắc đổ ra Cửa Lò.

+ Vùng Diễn Châu – Yên Thành – Quỳnh Lưu. Vùng Diễn châu có kênh tiêu Vách Bắc thu nước từ phía Bắc và từ các sông Dinh, Dền, Qui Lãng, Lạc Thổ và Bàn Dú rồi tiêu qua kênh Diễn Hoa và sông Bùng ra biển tại cống Diễn Thủy và Diễn Thành. Vùng Quỳnh Lưu, trũng ở hữu ngạn sông Hoàng Mai, có đê bảo vệ, nhưng thường bị úng do đất thấp.

+ Vùng Đức Thọ, Can Lộc thuộc tỉnh Hà Tĩnh là vùng lòng chảo chạy dọc theo sông Nghèn. Phía Đông của đồng bằng là núi Hồng Lĩnh, còn phía Tây là núi Tra Sơn. Sông Nghèn nối với sông Lam bởi cống Trung Lương, còn đầu kia chảy ra biển qua cửa Sót. Khi lũ sông Ngàn Sâu lên cao thì nước sông Nghèn không tiêu ra sông Lam được.

Hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh có nhiều đường giao thông quan trọng như đường Sắt, Quốc lộ 1A, các đường 48, đường 7A, các tỉnh lộ, huyện lộ. Quốc lộ 1A đi qua vùng úng phía nam thành phố Vinh, vùng Can Lộc. Đường sắt đi trên nền cao hơn, chỉ bị ngập ở Hưng Nguyên, tả ngạn sông Cả, sau đó rẽ về phía Tây đi men theo sông Ngàn Sâu. Các đường Diễn Châu – Đô Lương, Vinh – Nam Đàn cũng đi qua vùng úng lụt. Hai công trình thủy nông lớn là Đập Đô Lương, lấy nước tưới cho 2 huyện Yên Thành và Diễn Châu; cống Nam Đàn lấy nước tưới cho 2 huyện Nam Đàn và Hưng Nguyên. Các công trình chống úng lụt gồm: Đê sông Cả từ Đô Lương trở xuống. Hữu ngạn, phần lớn là đê địa phương, chỉ đắp ven những triền đất thấp, không liên tục; giữ được trên BĐ 2. Phía tả ngạn là đê trung ương xen kẽ với đê địa phương, đoạn Đô Lương-Nam Đàn đê không khép kín, đoạn Nam Đàn – Bến Thủy đê liên tục. Đê trung ương được thiết kế theo lũ 1954 tại Nam Đàn là 10.24 m. Các kênh tiêu và các trạm bơm, cống tiêu: Kênh thấp từ Nam Đàn ra Bến Thủy và Cửa Lò (85 km); Kênh Vách Bắc và Diễn Hoa tiêu nước ra cống Diễn Thủy, Diễn Thành; Cống Trung Lương, Đông Huề trên sông Nghèn. Các hồ chậm lũ: Vệ Vừng, Xuân Nguyên, Quán Hài, Đền Hùng, Kẻ Sắt, Đập Diếc, Bàu Dú, với tổng dung tích 47,3 triệu m3 để chậm lũ cho khu Diễn-Yên-Quỳnh. 16 hồ nhỏ khác ở vùng Hồng Lĩnh, Trà Sơn, tổng dung tích 327 triệu m3, để chậm lũ cho khu Đức-Can.

1.2. Đặc điểm khí tượng thủy văn

Mưa, lũ lớn sông Cả chủ yếu do Bão, ATNĐ, nhiều khi có sự phối hợp của KKL. Bão gây lũ lớn chủ yếu ở phần phía Nam của Nghệ Tĩnh, đôi khi bão vào Thanh hóa cũng gây lũ lớn (báo động III) trên sông Cả. Mùa mưa trên lưu vực sông Cả từ tháng VIII đến XI, tập trung vào tháng IX và X. Mưa ở hạ lưu sông Cả thường lớn hơn mưa ở thượng lưu, hướng di chuyển mưa cũng thường từ hạ lưu lên thượng lưu. Mưa gây lũ đặc biệt lớn trên sông Cả thường kéo dài trên một tuần lễ. Lượng mưa 7 ngày lớn nhất, tần suất 2% biến đổi từ 800-1.400mm ở đồng bằng và 700-1.200mm ở miền núi. Lũ sông Cả hình thành ở trung, thượng lưu, nhiều khi dòng chảy khu giữa Dừa – Nam Đàn xấp xỉ dòng chảy tại Dừa. Lũ sông La (gồm 2 nhánh Ngàn Sâu và Ngàn Phố) bổ sung cho dòng chảy sông Cả ở phía dưới Nam Đàn khoảng 30km và đe dọa hệ thống đê điều ở đồng bằng. Lũ sông La thường lớn hơn lũ của sông Hiếu từ 1,5 đến 2 lần. Ngập úng ở đồng bằng Nghệ Tĩnh chủ yếu phụ thuộc vào mưa nội đồng. Nếu xảy ra vỡ đê thì tình hình ngập úng càng thêm nghiêm trọng. Việc tiêu úng chủ yếu dựa vào các trạm bơm. Khi lũ lớn, thường các cống Bến Thủy, Trung Lương không hoạt động vì nước ngoài sông cao hơn trong đồng. Biên độ thủy triều trung bình trong tháng IX ở Bến Thủy là 1,97m, lớn nhất là 2,92m, tại Cửa Hội trong tháng X là 2,23m (cao nhất 2,58m). Gặp triều cao, nước úng ngập trong đồng thoát ra biển rất khó khăn. Bão đổ bộ vào Hà Tĩnh – Đèo Ngang, có thể gây nước dâng làm cho úng lụt thêm nghiêm trọng. Ví dụ, bão đổ bộ vào Kỳ Anh ngày 13/ X/1989 gây nước dâng tại Cửa Lò tới 3m; hay bão vào Nam Đèo Ngang ngày 29/VIII/1990 gây nước dâng tại Cửa Hội là 1,80m. Theo thống kê từ năm 1976-1998, chưa xảy ra tổ hợp lũ lụt lớn gặp nước dâng do gió bão.

1.3. Đặc điểm mưa lũ trong trận lũ lớn X – 1978 và X – 1988

+ Trận lũ lớn tháng IX năm 1978. Lũ lớn tháng IX/1978 là trận lũ kép với 2 đỉnh thuộc loại lớn. Mực nước cao nhất tại Nam Đàn là 9,64m (hoàn nguyên là 10,38m), tại Linh Cảm là 7,75m. Lũ đặc biệt lớn trên sông Cả do mưa 3 cơn bão (số 7, 8, 9) tác động liên tiếp lên phía nam Nghệ Tĩnh khi kết hợp với KKL: Cơn bão số 7, sau khi suy yếu thành áp thấp đi vào Quảng Nam -Đà Nẵng ngày 15/IX, tiếp theo là bão số 8 vào nam Quảng Bình, bắc Đà Nẵng ngày 20/IX, kết hợp với KKL gây ra mưa lớn ở trung, hạ lưu sông Cả. Tổng lượng mưa lớn nhất trong 9 ngày (14 – 23/IX) tại Môn Sơn (lưu vực sông Giàng) là 727,5 mm, Khai Sơn 701,7mm, Đô Lương 691,3 mm. Mưa trên 600mm bao trùm toàn bộ khu giữa Dừa – Nam Đàn, gây nên đỉnh lũ thứ nhất tại Nam Đàn lên tới 8,10 m, cao hơn BĐ III là 20 cm. Ngày 26/9, khi lũ đang rút (mực nước Nam Đàn đã xuống tới 6,94 m), bão số 9 lại đổ bộ vào bắc Quảng Bình có tác động của KKL gây nên mưa lớn, tập trung trong 3 ngày 26-28/IX. Trung tâm mưa lớn đợt này cũng ở khu giữa Dừa – Nam Đàn, lượng mưa lớn nhất 3 ngày (26-28/IX) tại Đô Lương là 957,9mm, Môn Sơn 867,4mm, Khai Sơn 846,8mm, Dừa 809,2mm. Diện mưa trên 700mm trải rộng từ Dừa tới Nam Đàn, vùng đồng bằng bắc Nghệ Tĩnh mưa 500-700mm. Lượng mưa trung bình trên phần lưu vực sông Cả thuộc Việt Nam đợt này là 387mm. Tính chung cho cả 2 đợt, từ 14-28/IX, mưa trung bình là 762,8mm, tương đương với 10,8 tỉ m3 nước, nếu tính toàn lưu vực thì tương đương với 14,2 tỉ m3 nước. Tại đồng bằng phía thành phố Vinh, lượng mưa bình quân bằng 1134,3mm, tương đương 2,4 tỉ m3 nước; tại đồng bằng tỉnh Hà Tĩnh, lượng mưa lớn hơn: tại Bàu Nước (Kỳ Anh) mưa 2422,4mm, Kỳ Sơn 2041,1mm, Hà Tĩnh 1464mm, Trung Lương 1210mm. Đợt mưa thứ hai làm lũ lên lại rất nhanh, cường suất lớn nhất tại Dừa là 57cm/h, tại Nam Đàn là 20cm/h. Đỉnh lũ tại Dừa là 9.920m3/s, gia nhập khu giữa ước tính là 7.820m3/s, tại Yên Thương là 9.140m3/s. Lũ sông La rất lớn đã cản trở sự thoát lũ ở hạ lưu sông Cả và uy hiếp đê ở hạ lưu. Đỉnh lũ tại Linh Cảm là 7,75m (năm 1954 là 6,10m). Lũ tại Nam Đàn duy trì trên mức báo động 3 trong đợt đầu là trên 2 ngày, đợt sau là 6 ngày.

Từ tối ngày 27 đến ngày 28/IX, các đê hữu ngạn và tiếp theo là các đê tả ngạn lần lượt bị vỡ. Có 397 chỗ vỡ, tổng chiều dài là 29.400m với khối lượng đất vỡ là 587.000m3, trong đó, đê trung ương vỡ 7 chỗ, dài 570m, khối lượng 14.400m3; đê địa phương vỡ 220 chỗ, dài 9.800m, khối lượng 278.000m3; đê ngăn mặn vỡ 170 chỗ, dài 19.000m, khối lượng 295.000m. Riêng trên sông Cả có 125 chỗ vỡ (đê tả 39 chỗ, đê hữu 86 chỗ). Các chỗ vỡ và tràn bên bờ hữu sông Cả đều là đê địa phương, chỉ giữ được ở mức báo động 2 trở xuống. Lượng nước tràn vào đồng được giữ lại tạm thời, sau đó lại chảy ra sông. Bên tả ngạn, gần huyện lỵ Thanh Chương (đê Đồng Văn, Cốm Thái) có 25 chỗ vỡ, dài tới 730m, sâu 2 – 3,5m (ngày 27/IX) làm ngập các vùng trũng.

+ Trận lũ lớn tháng X/1988: Đỉnh lũ tại Nam Đàn là 9,41m, thấp hơn đỉnh lũ thực đo năm 1978 là 23cm. Lũ do mưa bão số 7 đổ bộ vào Qui Nhơn trưa ngày 10/X, sau suy yếu thành ATNĐ và dịch lên phía Bắc. Ngày 12, 13, ATNĐ di chuyển sang Lào, Thái Lan và tan ở đây. Sau khi bão vào bờ lạI có một bộ phận không khí lạnh tăng cường làm cho đới gió đông – đông bắc ở ven biển mạnh lên. Mưa lớn từ ngày 12, 13/X.Tổng lượng mưa từ ngày 11-18/X, thay đổi từ 282-694mm ở đồng bằng lên đến 369-964mm ở miền núi. Tâm mưa ở trung du sông Ngàn Sâu – sông Cả. So với trận lũ IX/1978 thì mưa lưu vực sông Ngàn Sâu – Ngàn Phố tương đương, ở thượng lưu sông Cả mưa nhỏ hơn, còn ở đồng bằng thì chỉ bằng 1/2-1/3. Do vậy, lũ thượng nguồn sông Cả và Ngàn Phố năm 1988 lớn hơn năm 1978 một ít, gia nhập khu giữa Dừa-Nam Đàn nhỏ. Trên sông chính xảy ra lũ đơn, lũ trên BĐ 3 tại Nam Đàn kéo dài 8 ngày (từ 19h/14 đến 22h/22); khi gần đỉnh (17-20/X), thủy triều ở Cửa Hội đang trong chu kỳ nước cao, biên độ đạt 2.40m (trung bình tháng X là 2,23m) nên thoát lũ rất khó khăn. 1.4: Tình hình ngập lụt, úng ở đồng bằng Nghệ An – Hà Tĩnh

+ Ngập lụt, úng ở đồng bằng Nghệ Tĩnh xảy ra thường xuyên khi mưa bão. Năm 1978, khi lũ mới ở mức báo động 3 (ngày 30/VIII và 20/IX) đã xảy ra úng ngập nặng và được xem là năm điển hình để tính toán thiết kế biện pháp chống úng. Năm 1988, lũ sông Cả thấp hơn năm 1978, mưa ở đồng bằng nhỏ hơn ở trung, thượng lưu và không có vỡ đê, nhưng thủy triều cao gây thoát lũ kém nên diện úng ngập khá lớn (68.000ha lúa và hoa màu bị ngập), tuy chỉ bằng một nửa của năm 1978. Năm 1978, mưa lớn ở đồng bằng kết hợp với vỡ đê nên ngập lụt rất nghiêm trọng (hình P.18). Tình hình ngập lụt úng ở 3 vùng của Nghệ Tĩnh như sau: – Vùng Nam – Hưng – Nghi (huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc). Đồng bằng Nam-Hưng-Nghi có diện tích canh tác khoảng 48.700ha. Cao trình mặt ruộng khoảng 4,00-5,15m chiếm 17.700ha, còn lại 31.000ha thuộc vùng thấp, có cao trình từ 0,7-3,0m, là vùng thường xuyên bị ngập úng. Trong trận lũ lụt lớn tháng IX.1978, lượng mưa bình quân khu vực này là 1134mm (từ 15- 28/IX), tương đương với 1,2 tỉ m3 nước bao phủ trên diện tích 105.500ha. Ngày 27/IX, khi lũ Nam Đàn lên báo động 3 lần thứ hai thì đê sông Cả ở Cẩm Thái và Đồng Văn (huyện Thanh Chương) bị vỡ 25 chỗ, tổng độ dài tới 730m, sâu từ 2-3,5m. Nước lũ tràn sang thượng nguồn sông Rào Gang gây ngập sâu tới 4 – 5m, sau đó chia làm 2 ngả: một ngả chảy xuôi dòng Rào Gang rồi trở lại sông Cả ở phía dưới trạm thủy văn Yên Thượng khoảng 1km, một ngả tràn sang sông Cửa Lò đổ ra biển.

Những hướng chính thoát nước lụt là: Hướng thoát nước mưa là từ Nam Đàn ra Bến Thủy (hướng Tây Bắc – Đông Nam) với chênh lệch mực nước khoảng 1,1m và từ Ngã ba Mượu ra Cửa Lò (hướng Bắc – Nam) với chênh lệch mực nước khoảng 1,5m. Hướng thoát nước lụt từ đê Cấm (Thanh Chương) sang Cửa Lò, theo hướng Đông-Tây qua các triền ruộng thấp tràn vào sông Cửa Lò rồi ra biển và từ đê Đồng Văn (Thanh Chương) ra Yên Thượng, dọc theo bờ tả sông Cả, theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.

Diện ngập lụt, úng: Diện tích bị úng thường xuyên là một giải hẹp dọc Kênh Thấp thuộc huyện Nam Đàn và mở rộng xuống phía Nam tới gần sông Lam trên đất huyện Hưng Nguyên (Nam thành phố Vinh); một giải khác nằm dọc Kênh Gai, từ trạm bơm 16 thuộc Hưng Đông lên đến gần Cửa Lò thuộc Nghi Lộc. Trong trận lũ lớn năm 1978, các vùng ngập thường xuyên tăng gấp hơn 2 lần, đặc biệt là ở vùng Nam Đàn (tả và hữu ngạn sông Lam) và vùng sông Cửa Lò.

Diện ngập do mưa úng nội đồng rất rộng lớn. Ngày 21/IX, khi cơn bão số 8 đã đổ bộ thì mưa tích lũy ở đồng bằng lên tới 500 – 700mm, trong khi lũ tại Nam Đàn mới trên báo động 2 thì nước nội đồng đã cao hơn nước ngoài sông, úng có thể tiêu tự chảy. Ngày 22/IX, khi lũ trên sông lên báo động 3, cao hơn nước nội đồng, thì các công trình tiêu bị ngập, kênh bị vỡ và không còn phát huy tác dụng. Hệ thống trạm bơm, kênh tiêu Nam-Hưng-Nghi không đủ năng lực tiêu úng.

Diện ngập lụt do vỡ đê bắt đầu từ ngày 27/IX khi lũ trên sông lên lại sau bão số 9, còn trong đồng đã ngập úng nghiêm trọng. Diện ngập lụt do vỡ đê gồm 2 giải hẹp, tách hẳn khỏi diện úng nội đồng. Nó bao lấy vùng Nam-Hưng-Nghi ở phía Bắc và phía Tây. ở phía Tây, giải ngập lụt chạy men theo bờ tả sông Cả đến Yên Thượng, ở phía Bắc giải ngập lụt nằm dọc theo ruộng mùa ở giữa các khu đồi và ruộng chiêm ở 2 bên bờ sông Cửa Lò và hòa trộn vào khu úng nội đồng, gây cản trở việc tiêu ra sông Cửa Lò. Diện ngập lụt ở bờ tả sông Lam là 24.167ha trong đó, 16.133ha bị mất trắng. Diện ngập lụt ở bờ hữu sông Lam là 4.080ha. Độ ngập sâu. Trên các đồng ruộng, ngập sâu từ 3-4m, ở các đường giao thông, từ 1-2m, có nơi 4-5m. Quốc lộ 1A và đường sắt bị ngập chủ yếu ở phía nam thành phố Vinh và Cầu Cấm qua Cửa Lò, đường 49 từ Vinh đi Nam Đàn bị ngập toàn tuyến.Thời gian ngập trong đồng từ 15-20 ngày, đường giao thông, từ 11 – 15 ngày.

+ Vùng Diễn Châu – Yên Thành – Quỳnh Lưu gồm 2 khu: khu Quỳnh Lưu chạy từ hữu ngạn sông Hoàng Mai xuống phía Nam tới kênh Tố Khê và Sơn Tịnh, và khu Diễn Châu, ở phía Nam kênh Vách Bắc. Do cao trình chỉ 0,3 – 3,5m nên thường xuyên bị ngập úng và được tiêu nhờ kênh Diễn Hoa đổ ra cống Diễn Thủy và sông Bùng đổ ra cống Diễn Thành. Trong trận lụt năm 1978, mưa bình quân khu vực từ 15-28/IX là 1134mm. Tuy có nhiều hồ chậm lũ và kênh Vách Bắc tiêu úng, nhưng do mưa lớn, một số đập và kênh bị phá gây ngập úng nặng ở đồng bằng. Diện ngập là 21.000ha. Quốc lộ 1A và 7 bị ngập ở nhiều nơi, có đoạn ngập tới 17 – 19 ngày.

+ Vùng Đức Thọ – Can Lộc. Đồng bằng Đức Thọ-Can Lộc có dạng lòng chảo, được bao bọc bởi dãy núi Hồng Lĩnh ở phía Đông và Trà Sơn ở phía Tây. Độ cao tự nhiên từ 1,0-2,5m, thấp nhất là các xã ven sông Nghèn như Đức Hồng, Đức Thịnh, Đức Bình, Đức Thủy, Kim Lộc, Vương Lộc,…Mưa từ 15-28/IX/1978 tại Trung Lương là 1209mm, tại Hà Tĩnh 1465mm. Ngày 23/9, sau mưa bão số 8, lượng mưa ở đồng bằng mới đạt 600-700mm và sông Lam đang ở đỉnh của đợt lũ đầu (Linh Cảm 6,15m, Trung Lương 5,40m), thì hầu hết các nơi đã bị ngập úng. Mực nước trong đồng tại Trung Lương là 3.15m, thấp hơn nước sông nên không thể tiêu ra cống Trung Lương. Hướng tiêu ra sông Nghèn để đổ ra Cửa Sót lại bị triều cao nên tiêu rất chậm. Vì thế, khi có bổ sung mưa bão số 9, hầu hết diện tích canh tác, nhiều làng xã đã ngập chìm trong nước. Diện ngập lên tới 20.000ha. Nhiều nơi ngập sâu 2-3m, quốc lộ số IA có nhiều nơi ngập sâu 0,8 – 1,2m.

+ Vùng Trung Thượng Du. Ngoài 3 vùng úng, lụt trọng điểm nêu trên, nhiều vùng ở dọc sông Hiếu (huyện Tân Kỳ), sông Cả từ Dừa về Nam Đàn (huyện Anh Sơn, Thanh Chương) và sông Ngàn Sâu (huyện Hương Khê) cũng bị ngập lụt do lũ lớn ngoài sông với tốc độ nhanh, ngập sâu, song thời gian ngập chỉ kéo dàI 1 -2 ngày.

Thiệt hại do 2 trận lũ lụt úng ngập lịch sử năm 1978 và 1988 trên lưu vực sông Cả và sông La là rất lớn.

Theo Trung Tâm TVTW

Đứng riêng | Posted on by | Thẻ , , , , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?